Tất tần tật kiến thức về môi trường marketing mà bạn nên biết

Đăng ngày: 29/04/2022

Môi trường marketing là tập hợp các yếu tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến hoạt động marketing của doanh nghiệp. Hiểu rõ môi trường marketing giúp doanh nghiệp đưa ra những quyết định sáng suốt, xây dựng chiến lược hiệu quả và đạt được mục tiêu kinh doanh. Cùng MIC CREATIVE tìm hiểu về tất cả thông tin về môi trường marketing trong bài viết dưới đây nhé!

Tất tần tật kiến thức về môi trường marketing mà bạn nên biết

1. Môi trường marketing là gì?

Môi trường marketing của một công ty (doanh nghiệp) là tất cả các lực lượng, các yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát của bộ phận marketing trong công ty, chúng có thể có tác động có lợi hoặc bất lợi tới các quyết định và các hoạt động marketing của công ty. Như vậy, có thể nói khi phân tích môi trường marketing, về thực chất là ta phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường kinh doanh tới sự biến đổi của tính chất, quy mô, trình độ… của nhu cầu thị trường, tới tương quan cung cầu và đặc biệt là tới các biến số marketing – mix của công ty.

Môi trường Marketing là gì
Môi trường Marketing là gì

Khi nói môi trường marketing là các yếu tố, lực lượng mà bộ phận marketing không kiểm soát được, không khống chế được, thì điều đó có nghĩa là sự thay đổi, những diễn biến của các lực lượng và yếu tố đó không phải do bộ phận marketing tạo ra, nhưng có những yếu tố, lực lượng bộ phận marketing của từng công ty có thể có những tác động để vô hiệu hóa sự thay đổi và có những yếu tố, lực lượng từng công ty không thể thay đổi. Song nhìn chung, đối với bộ phận marketing, tất cả những biến đổi đó đều là khách quan. Cùng với những thay đổi đó công ty có thể phát hiện ra những cơ hội, những điểm mạnh, nhưng cũng có thể là các nguy cơ hay điểm yếu đối với kinh doanh của công ty.

2. Tầm quan trọng của việc phân tích môi trường marketing

Cần thiết cho việc lập kế hoạch

Hiểu rõ môi trường marketing giúp doanh nghiệp xác định được các cơ hội và thách thức, từ đó xây dựng kế hoạch marketing phù hợp. Ví dụ, nếu doanh nghiệp nhận thức được xu hướng tiêu dùng mới, họ có thể điều chỉnh sản phẩm và chiến lược marketing để đáp ứng nhu cầu thị trường.

Khai thác xu hướng

Môi trường marketing luôn biến động với sự xuất hiện của các xu hướng mới như công nghệ, kỹ thuật, văn hóa, xã hội,… Doanh nghiệp nắm bắt được xu hướng sớm sẽ có lợi thế cạnh tranh và tạo dựng vị thế vững chắc trên thị trường.

Đối mặt với thách thức

Môi trường marketing cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro và thách thức như đối thủ cạnh tranh, khủng hoảng kinh tế, sự thay đổi chính sách chính trị – pháp luật,… Doanh nghiệp cần có khả năng dự đoán và ứng phó với những thách thức này để duy trì hoạt động kinh doanh hiệu quả.

3. Phân loại môi trường marketing

Philip Kotler đã chia các yếu tố môi trường marketing thành 3 nhóm tùy theo mức độ và phạm vi ảnh hưởng tới quyết định marketing của doanh nghiệp. Đó là:

Môi trường marketing vĩ mô

Là những lực lượng trên bình diện xã hội rộng lớn. Nó tác động đến toàn bộ môi trường marketing vi mô và quyết định marketing của các doanh nghiệp trong toàn ngành, thậm chí trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Có 6 nhóm môi trường marketing vĩ mô chính, bao gồm: kinh tế, chính trị – luật pháp, văn hóa – xã hội, công nghệ, dân số, tự nhiên.

Mục đích nghiên cứu các yếu tố vĩ mô đối với doanh nghiệp là để dự báo được xu hướng vận động trong tương lai của các yếu tố này, dự báo được tác động của các yếu tố này đến thị trường và ngành kinh doanh trong tương lai, đánh giá được cơ hội và nguy cơ của doanh nghiệp trong kinh doanh trên thị trường sản phẩm này, từ đó giúp doanh nghiệp điều chỉnh chính sách và biện pháp marketing cho phù hợp.

Môi trường marketing ngành hay cạnh tranh

Các yếu tố của môi trường ngành chính là các doanh nghiệp và cá nhân khác có ảnh hưởng trực tiếp đến các quyết định marketing của các doanh nghiệp trong ngành kinh doanh, bao gồm các nhà cung cấp, các đối thủ cạnh tranh, các nhà phân phối, các tổ chức xã hội, khách hàng… Các lực lượng này ảnh hưởng trực tiếp đến các quyết định marketing của doanh nghiệp.

Môi trường marketing nội bộ

Đây là những yếu tố nội tại của doanh nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng nguồn lực dành cho hoạt động marketing, đến chất lượng các quyết định marketing của họ. Các yếu tố này bao gồm: các cổ đông, ban lãnh đạo, người lao động, công đoàn, các phòng ban chức năng khác, đặc biệt là mối quan hệ làm việc giữa các yếu tố này.

Các quyết định marketing phụ thuộc nhiều vào sự ủng hộ của các cấp lãnh đạo, các chức năng quản trị khác và toàn bộ nhân viên của doanh nghiệp.

Phân loại môi trường marketing
Phân loại môi trường marketing

Cũng có những tài liệu chỉ chia môi trường marketing thành môi trường vi mô và môi trường vĩ mô. Môi trường marketing vi mô là tất cả các yếu tố, các lực lượng có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng phục vụ khách hàng của công ty và bằng những điều chỉnh của mình công ty có thể gây tác động trở lại các yếu tố và lực lượng này theo hướng có lợi cho mình.

Những lực lượng này gồm có: Các lực lượng bên trong công ty (ngoài bộ phận marketing), các lực lượng bên ngoài công ty (các nhà cung ứng, các nhà môi giới marketing, các đối thủ cạnh tranh, công chúng trực tiếp và khách hàng).

4. Phân tích môi trường marketing vĩ mô

4.1. Môi trường tự nhiên

Các vấn đề chủ yếu cần nghiên cứu về môi trường tự nhiên phục vụ cho marketing bao gồm:

  • Xu hướng bảo vệ môi trường
  • Sự thiếu hụt nguồn nguyên vật liệu
  • Sự gia tăng chi phí năng lượng
  • Chất thải công nghiệp
  • Các quy định của chính phủ về vệ sinh công nghiệp
Môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên

Môi trường tự nhiên, trước hết, bao gồm các tài nguyên, khí hậu, địa hình và các yếu tố tự nhiên khác. Hoạt động marketing bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố của môi trường tự nhiên.

Môi trường tự nhiên tác động đến hoạt động marketing bao gồm không chỉ những nguồn lực từ ”tài nguyên thiên nhiên” có thể sử dụng để sản xuất sản phẩm/ dịch vụ mà còn cả những đòi hỏi phải bảo vệ môi trường sống của con người nói chung. Các doanh nghiệp đang phải chi trả ngày càng nhiều cho các giải pháp chống ô nhiễm môi trường và do đó làm tăng chi phí marketing.

4.2. Môi trường văn hóa – xã hội

Môi trường văn hóa bao gồm thể chế xã hội, giá trị xã hội, truyền thống, dân tộc, tôn giáo, đức tin và thái độ của xã hội, cách sống, lối sống,… Những yếu tố của môi trường văn hóa phân tích ở đây chỉ tập trung vào hệ thống giá trị, quan niệm niềm tin, truyền thống và các chuẩn mực hành vi.

Các yếu tố văn hóa xã hội chi phối đến hành vi tiêu dùng và hành vi kinh doanh. Các yếu tố này ảnh hưởng đến hoạt động marketing của doanh nghiệp trên các khía cạnh sau:

Văn hoá tiêu dùng

Mỗi xã hội có những giá trị văn hóa truyền thống căn bản rất bền vững, được truyền từ đời này sang đời khác tạo nên những tập quán tiêu dùng. Các doanh nghiệp nên tìm cách thích ứng với những yếu tố môi trường này thay cho nỗ lực làm thay đổi nó. Bởi vì, ngay cả những công ty làm marketing giỏi nhất cũng khó có thể bằng nỗ lực riêng của họ làm thay đổi được một giá trị văn hóa bền vững nào đó.

Ví dụ: Mc Donald cũng không thể thuyết phục người theo đạo Hồi ăn thịt lợn.

Sự giao thoa giữa các nền văn hoá

Có những yếu tố văn hóa thứ phát dễ thay đổi, dễ hấp thụ và có sự giao thoa giữa các nền văn hóa. Khi các yếu tố này thay đổi thường kéo theo những khuynh hướng tiêu dùng mới, những cơ hội thị trường mới cho các nhà kinh doanh và làm mất đi những thị trường sản phẩm cũ.

Môi trường văn hoá - xã hội
Môi trường văn hoá – xã hội

Căn cứ vào mức độ ổn định hoặc thay đổi của các chuẩn mực giá trị có liên quan đến văn hoá, người ta chia văn hoá theo 3 mức độ:

Mức độ Đặc điểm
Nền văn hoá
  • Đây là những chuẩn mực giá trị phản ánh bản sắc văn hoá của một đất nước, của một vùng, miền hoặc của một dân tộc. Những chuẩn mực giá trị này được lưu giữ một cách rất trung thành theo thời gian và hoàn cảnh.
  • Ví dụ: tất cả người Việt đều luôn có xu hướng hướng về cội nguồn, đề cao truyền thống tổ tiên, đất nước, dân tộc Việt Nam, dù ở đâu, trong hoàn cảnh nào họ cũng tổ chức tết cổ truyền, thờ cúng tổ tiên, kính trên nhường dưới… Đây thực sự là giá trị văn hoá cốt lõi bền vững, đã ăn sâu vào tâm trí mỗi người.
  • Các giá trị văn hoá cơ bản của xã hội được thể hiện qua thái độ của con người đối với bản thân mình, đối với người khác, đối với các thể chế tồn tại trong xã hội, đối với toàn xã hội, với tự nhiên và vũ trụ.
Nhánh văn hoá
  • Đây là những chuẩn mực giá trị mà được một nhóm, một bộ phận người, do có điều kiện và hoàn cảnh sống giống nhau, họ có quan niệm giống nhau trong khi vẫn bảo tồn bản sắc văn hoá cốt lõi – truyền thống.
  • Ví dụ: giới ca sĩ có đặc điểm tự do phóng khoáng chung trong việc lựa chọn trang phục,… khi đó họ có thể trở thành thị trường mục tiêu của một số nhà tạo mốt…
  • So với những chuẩn mực giá trị gắn với nền văn hoá, chuẩn mực giá trị do nhánh văn hoá tạo ra có thể biến đổi theo thời gian và hoàn cảnh.
Sự biến đổi văn hoá
  • Một số chuẩn mực giá trị văn hoá có thể thay đổi nhanh theo từng tình huống. Những biến đổi này đôi khi tạo ra cơ hội marketing rất lớn.
  • Ví dụ: người ta có thể thay đổi trang phục gắn với một sự kiện thể thao, lựa chọn một loài hoa mới cho thú chơi hoa của một dịp tết cổ truyền nào đó,…

4.3. Môi trường nhân khẩu học

Môi trường nhân khẩu học bao gồm một tập hợp các yếu tố như: quy mô, cơ cấu (tuổi tác, giới tính…), tốc độ tăng và sự phân bố của dân số trong mối quan hệ với các nhân tố xã hội chẳng hạn như biên giới địa lý, quá trình đô thị hóa…

Quy mô, phân bố dân cư và các đặc tính riêng của người dân/ dân số ở một bất cứ khu vực thị trường địa lý nào cũng ảnh hưởng rõ nét tới hoạt động marketing.

Những yếu tố cơ bản của môi trường dân số mà người làm thị trường phải biết là quy mô, tốc độ tăng dân số, tốc độ đô thị hoá, cơ cấu độ tuổi của dân cư, quy mô gia đình, tình trạng hôn nhân và gia đình, sự di chuyển dân cư, vai trò mới của phụ nữ… 

Môi trường nhân khẩu học
Môi trường nhân khẩu học

4.4. Môi trường kinh tế

Môi trường kinh tế là một tập hợp gồm nhiều yếu tố có ảnh hưởng sâu rộng và theo những chiều hướng khác nhau đến hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Các yếu tố kinh tế chủ yếu gồm: Tốc độ tăng trưởng nền kinh tế (GDP), kim ngạch xuất nhập khẩu, tình trạng lạm phát, thất nghiệp, tỷ giá, lãi xuất ngân hàng, tốc độ đầu tư, thu nhập bình quân đầu người và cơ cấu chỉ tiêu, sự phân hóa thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, thu chi ngân sách nhà nước…

Từng yếu tố này vận động biến đổi có thể gây nên thuận lợi hay khó khăn cho doanh nghiệp, đòi hỏi doanh nghiệp phải thích ứng. Tất nhiên, cùng một yếu tố tác động có thể tạo nên cơ hội cho doanh nghiệp này và nguy cơ cho doanh nghiệp khác. Mỗi yếu tố cũng ảnh hưởng đến doanh nghiệp khác nhau giữa ngắn hạn và dài hạn.

4.5. Môi trường khoa học và công nghệ

Các vấn đề cơ bản khi phân tích môi trường khoa học và công nghệ là:

  • Tốc độ phát triển và đổi mới công nghệ kỹ thuật ngày càng nhanh
  • Chi phí dành cho nghiên cứu và phát triển trong các tập đoàn, công ty ngày càng tăng
  • Khả năng ứng dụng vô tận của công nghệ mới
  • Yêu cầu quản lý các ứng dụng công nghệ

4.6. Môi trường chính trị – luật pháp

Môi trường chính trị bao gồm các yếu tố như: mức độ ổn định chính trị; các đường lối, chính sách của chính phủ, cấu trúc chính trị, hệ thống quản lý hành chính,… Môi trường luật pháp bao gồm các bộ luật và quy định; hoạt động của các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng;… có thể cản trở hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động Marketing.

Môi trường luật pháp và chính trị có thể tác động theo một số hướng. Nó có thể hạn chế các hoạt động mà những người làm thị trường được phép tiến hành.

Ví dụ: bằng việc hạn chế số % quyền sở hữu của nước ngoài đối với 1 công ty đang hoạt động ở một nước khác hay bằng việc hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng trong nước đã sản xuất đủ hay cấm xuất khẩu những loại hàng nhất định của Việt Nam ra khỏi nước.

Một số hoạt động thì phải bắt buộc, ví dụ luật pháp yêu cầu rằng lời cảnh cáo của các chuyên gia y tế cao cấp phải được in trên tất cả các bao thuốc lá.

Cuối cùng, một số hành vi nhất định có thể bị cấm, bao gồm việc mua bán các sản phẩm như thuốc phiện, heroin, chất phóng xạ, trừ khi tuân theo sự kiểm soát nghiêm ngặt nhất. Diễn biến chính trị ở một số nước khác có thể có ảnh hưởng sâu sắc tới thị trường quốc tế.

Môi trường chính trị - luật pháp
Môi trường chính trị – luật pháp

5. Phân tích môi trường vi mô hay môi trường cạnh tranh trong ngành

5.1. Nhà cung cấp

Để tiến hành sản xuất ra hàng hoá hay dịch vụ cung cấp cho thị trường bất kỳ công ty nào cũng cần được cung cấp các yếu tố đầu vào như: Nguyên nhiên vật liệu, năng lượng, phụ tùng, bán thành phẩm, chi tiết, máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất và quản lý. Ngoài ra, công ty cũng cần phải thuê (tuyển dụng) lao động, thuê đất, vay tiền…

Nhà cung cấp có thể khẳng định quyền lực của mình bằng cách đe doạ tăng giá hoặc giảm chất lượng sản phẩm, không giao hàng đúng hạn,… làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp giảm do ảnh hưởng tới chi phí sản xuất cũng như khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

5.2 Các trung gian marketing

Các trung gian marketing giúp công ty xúc tiến, phân phối và bán sản phẩm tới người mua cuối cùng. Họ bao gồm: những người mua để bán lại (các nhà phân phối: bán buôn và bán lẻ), các công ty cung cấp các dịch vụ marketing và các trung gian tài chính:

Trung gian marketing Đặc điểm
Những người mua để bán lại
  • Là những công ty nằm trong kênh phân phối: các doanh nghiệp thương mại, các công ty bán buôn, bán lẻ, các cửa hàng… Họ giúp cho công ty tìm kiếm khách hàng.
  • Trong thời đại ngày nay, do tính chuyên nghiệp của các tổ chức này càng cao, quy mô kinh doanh ngày càng lớn, phạm vi bao phủ thị trường ngày càng rộng, các công ty này đôi khi có sức mạnh rất lớn trên thị trường và có thể tạo ra các áp lực đối với các nhà sản xuất.
  • Họ có thể cho hoặc không cho nhà sản xuất tham gia vào thị trường ở một vùng nào đó. Trái lại, nếu khéo thiết lập quan hệ với các tổ chức này, công ty có thể dễ dàng hơn trong việc đạt được các mục tiêu kinh doanh của mình.
Các công ty kho vận, công ty vận tải
  • Giúp công ty lưu kho, dự trữ và vận chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ. Khi làm việc với các trung gian này công ty phải tìm phương án tốt nhất để thực hiện việc lưu kho và vận chuyển trên cơ sở cân bằng các yếu tố chi phí, tốc độ và sự an toàn.
Các tổ chức cung ứng dịch vụ marketing
  • Các tổ chức cung ứng dịch vụ marketing bao gồm: công ty nghiên cứu marketing, công ty tư vấn marketing; các đại lý quảng cáo, các công ty truyền thông, các tổ chức phương tiện truyền thông (đài truyền hình, đài truyền thanh, các báo TW và địa phương, các nhà cung cấp dịch vụ internet…).
Các trung gian tài chính
  • Các trung gian tài chính bao gồm: các ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các công ty bảo hiểm….
Các trung gian marketing
Các trung gian marketing

5.3. Đối thủ cạnh tranh

Trước hết, cần phân biệt các lực lượng và các đối thủ cạnh tranh theo quan niệm của marketing. Lực lượng cạnh tranh là chỉ tất cả các lực lượng, các yếu tố có thể gây một áp lực nào đó với công ty. Đối thủ cạnh tranh là một trong các lực lượng cạnh tranh. Dưới con mắt của các nhà quản trị marketing, ở mỗi một công ty cụ thể, thường có 4 loại đối thủ cạnh tranh sau đây:

Loại đối thủ cạnh tranh Đặc điểm
Cạnh tranh mong muốn
  • Đây là các đối thủ cạnh tranh thể hiện những khát vọng của người tiêu dùng, muốn thoả mãn các dạng nhu cầu cụ thể – mong muốn khác nhau trên cơ sở cùng một lượng thu nhập.
  • Ví dụ: trong một tháng, số tiền dùng để chi tiêu cho sinh hoạt của một người tiêu dùng là 1.000.000 VNĐ. Nếu số tiền đó dùng để thoả mãn nhu cầu – mong muốn này, thì không còn để thoả mãn nhu cầu – mong muốn khác nữa. Hoặc khách hàng đó chỉ để mua sắm hàng hoá thoả mãn nhu cầu- mong muốn này nhiều, thì số tiền dành cho việc mua sắm hàng hoá thoả mãn nhu cầu- mong muốn kia sẽ ít.
  • Vì vậy, với loại đối thủ cạnh tranh mong muốn thông tin về cơ cấu quỹ mua sắm được phân bổ theo xu hướng nào cho những mong muốn khác nhau là hết sức quan trọng đối với những quyết định chiến lược đầu tư- tham gia thị trường của các công ty.
Những loại hàng hoá khác nhau, cùng thoả mãn một nhu cầu – mong muốn nhất định
  • Chúng chính là những hàng hoá, dịch vụ khác nhau có khả năng thay thế cho nhau trong tiêu dùng để thoả mãn một nhu cầu- mong muốn giống nhau. Đây là sự cạnh tranh giữa các ngành hàng khác nhau. Tính chất mức độ cạnh tranh giữa các ngành hàng này do những đặc thù về tính hữu ích, công dụng của hàng hoá tạo ra là chính.
  • Ví dụ: để mua sắm phương tiện đi lại người ta có thể lựa chọn một trong 3 phương thức phổ biến hiện nay: mua xe hơi, mua xe gắn máy, mua xe đạp. Nếu như trào lưu tiêu dùng là xe hơi thì đó là cơ hội cho ngành xe hơi, nhưng lại là nguy cơ đối với ngành sản xuất và kinh doanh xe máy và xe đạp.
Các kiểu hàng hoá khác nhau trong cùng một ngành hàng (loại hàng)
  • Chẳng hạn, cạnh tranh giữa các loại máy phát điện có công suất phát khác nhau, cạnh tranh giữa các động cơ có công suất khác nhau… Những sản phẩm hàng hoá khác nhau này có thể do các doanh nghiệp khác nhau sản xuất, mà cũng có thể chúng được sản xuất ở cùng một doanh nghiệp.
Những kiểu (dạng) hàng hoá giống nhau thoả mãn cùng một mong muốn, nhưng có nhãn hiệu khác nhau Các quyết định marketing cụ thể có liên quan đến nhãn hiệu này có thể ảnh hưởng ngay đến quyết định mua sắm của khách hàng mục tiêu đối với nhãn hiệu khác. Tuỳ vào cách thức đặt tên nhãn hiệu mà đôi khi đối thủ cạnh tranh giữa các dạng (kiểu) hàng hoá khác nhau và giữa các nhãn hiệu khác nhau có thể đan xen vào nhau.
4 loại đối thủ cạnh tranh
4 loại đối thủ cạnh tranh

5.4. Công chúng trực tiếp

Công chúng trực tiếp của một doanh nghiệp là một nhóm (giới) bất kỳ quan tâm thực sự hay có thể sẽ quan tâm hoặc có ảnh hưởng đến khả năng đạt tới những mục tiêu đề ra của doanh nghiệp đó. Lực lượng này có thể hỗ trợ, tạo thuận lợi hoặc chống lại/ gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc triển khai các nỗ lực marketing để đáp ứng thị trường.

Người ta thường xếp công chúng trực tiếp của một doanh nghiệp theo 3 mức độ:

  • Công chúng tích cực là nhóm quan tâm tới công ty với thái độ thiện chí.
  • Công chúng tìm kiếm là nhóm chưa quan tâm nên công ty đang tìm kiếm sự quan tâm của họ.
  • Công chúng không mong muốn là nhóm có thể tẩy chay công ty.

Các công ty trực tiếp tác động đến hoạt động marketing của một doanh nghiệp thường có:

  • Công chúng tài chính như: Ngân hàng, các công ty đầu tư tài chính, các quỹ đầu tư, các công ty môi giới của Sở giao dịch chứng khoán, các cổ đông… Giới này có ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng đảm bảo nguồn vốn cho công ty để giải quyết các nhiệm vụ chiến lược.
  • Các phương tiện thông tin đại chúng như: đài phát thanh, đài truyền hình, báo chí… Nhóm này sẽ đưa những thông tin có lợi hoặc bất lợi cho công ty.
  • Các cơ quan Nhà nước có khả năng tác động đến các hoạt động marketing như: Cục Vệ sinh an toàn thực phẩm, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Văn hoá Thông tin, Bộ Tư pháp… Tuỳ theo chức năng của mình mỗi cơ quan có thể tác động đến các khía cạnh khác nhau của hoạt động marketing của doanh nghiệp.
  • Công chúng hành động vì công dân cũng là những lực lượng thường xuyên tác động tới hoạt động marketing của công ty. Những tổ chức này có thể có các nhóm: tổ chức bảo vệ người tiêu dùng, tổ chức bảo vệ môi trường…
  • Công chúng địa phương bao gồm các cư dân ở các địa phương và các tổ chức cộng đồng địa phương. Lực lượng này cũng có thể ủng hộ hoặc không ủng hộ sự hiện diện của công ty tại thị trường địa phương. Các công ty lớn thường chỉ định một cán bộ quan hệ cộng đồng chuyên giải quyết các vấn đề liên quan đến cộng đồng: tham dự các cuộc họp, trả lời các chất vấn và đóng góp các kết quả có giá trị với cộng đồng địa phương.
  • Công chúng nói chung: Một công ty cần phải quan tâm đến thái độ của công chúng nói chung đối với sản phẩm và hoạt động kinh doanh của công ty. Vì hình ảnh của công ty trước công chúng sẽ ảnh hưởng tới việc mua hàng của họ.
  • Công chúng nội bộ bao gồm công nhân viên, các nhà quản lý, Ban giám đốc… cũng là những lực lượng có ảnh hưởng tốt hay xấu đến hiệu quả các quyết định marketing của công ty. Nếu lực lượng này được động viên, khuyến khích thường xuyên thì sự hưng phấn trong công việc của họ sẽ lan tỏa ra công chúng bên ngoài.

5.5. Khách hàng

Khách hàng là thị trường của doanh nghiệp, đồng thời, khách hàng lại là một trong những lực lượng – yếu tố quan trọng nhất chi phối mang tính quyết định tới các hoạt động marketing của doanh nghiệp. Mỗi sự biến đổi về nhu cầu, về quyết định mua sắm của khách hàng đều buộc doanh nghiệp phải xem xét lại các quyết định marketing của mình.

Mỗi doanh nghiệp có thể có 5 loại khách hàng và tạo nên 5 loại thị trường:

  • Thị trường người tiêu dùng: các cá nhân, hộ gia đình, nhóm người, tập thể mua hàng hoá và dịch vụ phục vụ tiêu dùng cho đời sống của họ.
  • Thị trường các nhà sản xuất: là các cá nhân, tổ chức kinh tế, doanh nghiệp mua hàng hoá và dịch vụ của công ty về để tiêu dùng cho sản xuất.
  • Thị trường nhà buôn bán trung gian: là các cá nhân và tổ chức mua hàng hoá và dịch vụ của công ty về để bán lại kiếm lời.
  • Thị trường các công quyền và các tổ chức khác: khách hàng này mua hàng hoá và dịch vụ của công ty về để phục vụ cho tiêu dùng chung hoặc chuyển giao nó cho tổ chức hoặc người khác cần. Các viện, các trường học, các tổ chức nhân đạo, các tổ chức tài trợ… thuộc khách hàng này.
  • Thị trường quốc tế bao gồm các khách hàng nước ngoài: Họ là người tiêu dùng, hoặc là nhà buôn bán trung gian, là nhà sản xuất, là các cơ quan Nhà nước.
5 loại thị trường trong marketing
5 loại thị trường trong marketing

Mỗi loại khách hàng – thị trường trên có hành vi mua sắm khác nhau. Do đó, các quyết định marketing của doanh nghiệp đối với mỗi thị trường – khách hàng là không giống nhau. Doanh nghiệp phải nghiên cứu kỹ từng khách hàng – thị trường để có thể đáp ứng họ một cách tốt nhất.

6. Phân tích môi trường nội bộ

Phân tích các yếu tố nội bộ của doanh nghiệp bao gồm đánh giá tất cả các khả năng nguồn lực của doanh nghiệp, đánh giá các nguồn gốc tạo nên lợi thế cạnh tranh khác biệt dài hạn của họ trên thị trường. Các vấn đề cơ bản cần đánh giá bao gồm:

  • Đánh giá các nguồn lực hiện có phục vụ cho kế hoạch marketing: khả năng sản xuất, công nghệ, nguồn vốn sẵn có hoặc có thể huy động, nguồn lao động và chất lượng lao động.
  • Các nguồn lực có thể huy động từ bên ngoài: các nguồn đi vay, các nguồn lực có được thông qua liên kết hoặc thuê ngoài,…
  • Phân tích các năng lực theo các chức năng quản trị: tài chính, sản xuất, nhân sự, marketing, nghiên cứu phát triển, năng lực của ban giám đốc và hội đồng quản trị.
  • Phân tích mối quan hệ phối hợp giữa các bộ phận chức năng trong doanh nghiệp.
  • Đánh giá các quan hệ bên ngoài của doanh nghiệp: hệ thống kênh phân phối và quan hệ với các nhà phân phối; hệ thống cung cấp và quan hệ với các nhà cung ứng.

7. Kết luận

Qua bài viết trên, chúng tôi đã chia sẻ cho bạn tất cả các thông tin liên quan đến môi trường marketing. Hy vọng những thông tin hữu ích trên đây sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về môi trường marketing, từ đó đưa ra được những quyết định phù hợp cho doanh nghiệp của mình.

Nếu bạn đang có nhu cầu liên quan đến các dịch vụ Marketing, hãy liên hệ ngay với MIC Creative để được tư vấn giải pháp tối ưu nhất. Chúng tôi tự tin là đối tác Marketing nắm bắt thị trường, thấu hiểu khách hàng, thành thạo công cụ và luôn luôn sáng tạo.

MIC CREATIVE – Your Success, Our Future

Đánh giá của bạn post

Chia sẻ bài viết:

Facebook
Twitter
LinkedIn
Email

Mỗi ngày, chúng tôi học hỏi một điều mới về Marketing và chia sẻ cho bạn, để ngày mai của bạn trở nên thành công rực rỡ hơn ngày hôm qua.

Picture of MIC Creative

MIC Creative

Xem hồ sơ
Marketing

Bài viết liên quan